Hình minh họa: Getty Images)

LTS: Bác sĩ Hồ Ngọc Minh được biết trong cộng đồng người Việt nhiều năm qua với chuyên khoa về hiếm muộn, vô sinh, và lựa chọn trai gái theo ý muốn. Ông đã từng làm nghiên cứu về bệnh hiếm muộn, và các bệnh ung thư của phụ nữ tại National Cancer Institute trực thuộc National Institutes of Health. Bác Sĩ Minh là Board Certified về Obstertrics, Gynecology và Reproductive Endocrinology Infertility. Phòng mạch tọa lạc trong khuôn viên bệnh viện Fountain Valley, tại 11180 Warner Ave., Suite 465, Fountain Valley, CA 92708. Số điện thoại liên lạc: (714) 429-5848, trang nhà: www.bacsihongocminh.com
Trong bài viết này, tôi sẽ không đi vào chi tiết về chương trình huấn luyện một bác sĩ chuyên khoa về giải phẫu ở Mỹ, mà chỉ xin chia sẻ một số kinh nghiệm về sự chịu đựng mà một số bác sĩ nội trú phải trải qua.

Mục đích của bài viết này nhằm chia sẻ những hiểu biết cho những gia đình người Việt có con em đã và đang dấn thân và con đường y khoa, và đồng thời, mong muốn bệnh nhân cảm thông cho bác sĩ của mình nhiều hơn… một tí.

"Thương cho roi cho vọt, ghét cho ngọt cho bùi". Thế thì, một chương trình huấn luyện như thế nào để đào tạo những bác sĩ có kinh nghiệm, và nguyên nhân nào dẫn đến hiện tượng "cháy bóng" (burn out), của các bác sĩ nội trú?

Ở Mỹ, sau khi tốt nghiệp y khoa tổng quát, các tân bác sĩ đều phải tiếp tục được huấn luyện lâm sàng ở một bệnh viện từ 3 đến 9 năm trước khi trở thành một bác sĩ chuyên khoa. Ví dụ, để trở thành một bác sĩ chuyên khoa về Thụ Tinh Nhân Tạo, sau khi tốt nghiệp trường Y, bác sĩ phải học thêm 4 năm về Sản Phụ Khoa, và sau đó, 3 đến 4 năm về Thụ Tinh Nhân Tạo.

Một nghiên cứu mới nhất đăng trên tờ báo y khoa New England Journal of Medicine, tháng rồi, xác nhận một điều mà nhiều người trong giới y khoa, ai cũng biết, là các bác sĩ nội trú vẫn còn tiếp tục chịu đựng sự ngược đãi, kỳ thị, hành hạ, quấy nhiễu trong thời gian được huấn luyện. Đồng thời, một nghiên cứu khác được trình bày tại hội nghị của Hội Hàn Lâm Bác Sĩ Giải Phẫu Hoa Kỳ, ở San Francisco, cho biết các vấn đề này tiếp tục ảnh hưởng đến bác sĩ sau khi tốt nghiệp và nhiều khi đưa đến những rối loạn về tâm thần trong khi hành nghề.

Nghiên cứu thứ nhất có tham vấn khoảng 7,464 bác sĩ nội trú, trong đó, 39.6% là phụ nữ. Tuy nhiên nghiên cứu này không nói rõ về thành phần chủng tộc.

Kết quả cho thấy, 31.9% đã từng bị kỳ thị về giới tính, trong đó 90% là phụ nữ và 10% là đàn ông. Về phụ nữ, 65.1% bị ngược đãi thường xuyên, và 26.9% lâu lâu, ít nhất bị một lần. Phần lớn nguồn gốc của sự phân biệt lại đến từ bệnh nhân và gia đình của bệnh nhân, kế đến là y tá và nhân viên bệnh viện, phần còn lại 17.6% đến từ bác sĩ giáo sư hay bác sĩ đàn anh.

Ngoài ra, khoảng 16.6% bị kỳ thị chủng tộc, mà 75% nguồn gốc của sự kỳ thị cũng đến từ bệnh nhân và nhân viên y tá, với 25% đến từ bác sĩ giáo sư và các bác sĩ nội trú đồng môn.



Trên đây là sơ lược về con số thống kê xảy ra cho bác sĩ nột trú của thế kỷ thứ 21.

Hồi tưởng lại những năm tháng, cá nhân tôi đi thực tập nội trú, khoảng 35 năm trước cũng đã từng trải qua một số kinh nghiệm cay đắng của sự ngược đãi.


Sau khi tốt nghiệp y khoa, tôi được nhận vào huấn luyện nội trú về Sản Phụ Khoa tại bệnh viện Parkland Memorial Hospital ở Dallas, Texas. Đây là một bệnh viện nổi tiếng về các ngành chuyên khoa, và cũng là nơi mà Tổng Thống Kennedy được đưa đến và qua đời tại đây, sau khi bị ám sát.


Hãy thử tưởng tượng, tôi là bác sĩ Việt Nam đầu tiên được nhận vào chương trình huấn luyện về Sản Phụ, với hơn 95% các đồng môn cũng như giáo sư của tôi là đàn ông da trắng. Không những thế, hai năm sau, vợ của tôi bây giờ cũng được nhận vào chương trình huấn luyện nầy, lại là một phụ nữ Việt Nam, da vàng đầu tiên đi học nội trú Sản Khoa, ở bệnh viện Parkland. Có thể nói, tiểu bang Texas bị mang tiếng là tiểu bang kỳ thị chủng tộc đứng hàng đầu nước Mỹ khoảng thập niên 1960 đến 1980’s.

Theo kinh nghiệm của cá nhân tôi, nghiên cứu trên đây phản ảnh khá đúng sự thật. Phần lớn các giáo sư rất lịch sự với chúng tôi, tối thiểu là bề mặt bên ngoài. Phần lớn những sự đụng chạm xảy ra đến từ lịch làm việc rất ư là bận rộn. Tất cả các bác sĩ nội trú thường phải thức và làm việc không ngủ liên tiếp 36 tiếng, mới được ngủ 12 tiếng và cứ tiếp tục như thế trong nhiều năm. Khi bị stress, các bác sĩ đồng môn dễ có những gay gắt, xích mích, và hằn học lẫn nhau.

Thật ra, để cho hệ thống được hoạt động hữu hiệu, chương trình huấn luyện của chúng tôi được sắp đặt tương tự như "hệ thống quân giai" trong quân đội. Nghĩa là, cấp dưới phải tuần phục cấp trên một cách tuyệt đối. "Ma mới" phải chịu sự huấn nhục của "ma cũ". Trong những năm đầu tiên, ở "cấp dưới", tôi cho là mình bị ngược đãi hay bị phân biệt chủng tộc, nhưng khi tôi trở thành "cấp lớn" thì mới nhận ra được rằng sự ngược đãi ấy không xảy ra cho riêng mình, mà cho mọi người phải đi qua hệ thống từ dưới lên trên.

Trở lại với nghiên cứu trên đây, cũng cho biết, khoảng 30% sự ngược đãi xảy ra qua lời nói, chỉ có 2% là ngược đãi về thể chất, với 10% bị quấy nhiễu về tình dục.

Thế thì những sự ngược đãi hay kỳ thị này có đưa đến tình trạng "cháy bóng" của các bác sĩ trẻ? Nghiên cứu cũng cho biết, có 38.5% bị "burn out" thường xuyên và 4.5% đã từng có ý định tự sát!

Nói cho đúng ra thì không có một thành quả nào gặt hái được mà không phải trả một giá nào đó. Tuy nhiên, khi cái giá phải trả quá sức chịu đựng của một cá nhân thì cũng không mấy tốt cho lắm.

Cũng có thể nhiều bác sĩ nội trú, cũng giống như chúng tôi năm xưa, "chịu đựng để qua sông" mà thôi. Và cũng có thể, khi trải qua sự ngược đãi, chính mình không nhận ra được sự bất công ấy, mãi cho đến những năm về sau, hồi tưởng lại mới biết. Riêng cá nhân tôi, khi nhìn lại, cũng cám ơn sự rèn luyện khổ nhục ấy, không khác gì được huấn luyện trong quân trường, thu thập được những kinh nghiệm hay và kiến thức quý báu.

(Bác sĩ Hồ Ngọc Minh)